Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2020

[Review phim] Palo Alto - Những thiếu niên đa cảm và hoài nghi



Một trong những lý do tôi chọn phim này là cái tên “Gia Coppola” của nữ đạo diễn, và đúng như những gì tôi linh cảm, cô chính là cháu gái của một trong những đạo diễn tôi thích nhất: Francis Ford Coppola.

Palo Alto là bộ phim đầu tay của Gia Coppola, với thể loại tâm lý, tình cảm và đào sâu vào khai thác tâm trạng của những thanh thiếu niêu đang ở độ tuổi mới lớn. Tôi nghĩ đây là một sự lựa chọn vừa tầm với cô. Được làm năm 2013, chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nam tài tửJames Franco, cũng chính là người đóng vai thầy giáo MR. B ở trong phim. Cũng có thể thấy James Franco đã giúp cho Palo Alto thành công hơn rất nhiều bởi sự góp mặt của mình.

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

[Review Film] "The Tree Of Life" - Ai cũng đã từng có một cuộc đời như thế

The Tree Of Life - Ai cũng đã từng có một cuộc đời như thế






Nguồn: https://www.rogerebert.com/reviews/the-tree-of-life-2011

“The Tree Of Life” của đạo diễn Terrence Malick là một bộ phim mang tham vọng lớn và một sự khiêm tốn tận cùng. Ông cố gắng không ôm đồm tất cả sự tồn tại trong cuộc sống mà chỉ thu hẹp cái nhìn lại đến mức tối đa qua lăng kính của mình. Bộ phim duy nhất mà tôi thấy được con mắt liều lĩnh của tác giả là phim của Kubrick: “A Space Odyssey” vào năm 2001. Nhưng nó thiếu gợi nhắc về những sự tàn nhẫn trong cảm giác của con người. Từng có những đạo diễn khác biệt, khao khát muốn làm một kiệt tác, nhưng bây giờ chỉ còn lại một số. Và Malick thì vẫn còn nguyên đó những hoài bão của mình kể từ lần xuất hiện đầu tiên vào năm 1973.


Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Hiroshima Mon Amour - Không chỉ là nỗi đau về chiến tranh

Hiroshima Mon Amour - Không chỉ là nỗi đau về chiến tranh

Link: https://www.slantmagazine.com/film/review/hiroshima-mon-amour



Giống như những xác chết vô danh trong những cảnh mở đầu của bộ phim, “Hiroshima - Tình yêu của tôi” hướng đến một sự thay đổi trong phong cách làm phim của nhà cách mạng thời kỳ đầu- đạo diễn Alain Resnais. Cuốn kịch bản đầu tiên được xây dựng bởi  Marguerite Duras dựa trên cơ sở nền tảng của các sự kiện không xác định về thời gian và không gian, một kết cấu kịch bản được vay mượn từ kết cấu “tiểu thuyết mới” của Pháp, Để làm lành những khát vọng, chấn thương trong quá khứ và hiện tại. Ngoài ra, tính - thực - kiện của bộ phim được thể hiện ở chỗ liên tục bị đặt vào những câu hỏi của Resnais để làm mờ ranh giới giữa phi hư cấu và hư cấu. Những cảnh bắt đầu như một tài liệu chân thực về vụ đánh bom nguyên tử chuyển đổi thành hình ảnh chạy dọc theo một con đường đi vào một thứ gì đó đẹp đẽ và lạ lẫm. Giống như tài liệu ngắn trước đây của Resnais: “Night and Fog” (Đêm và sương mù), “Hiroshima - Tình yêu của tôi” đã đẩy một thông điệp rằng: Thảm hoạ Holocaust Hioshima có thể chẳng bao giờ được thể hiện chân thật hoặc trọn vẹn.


Câu chuyện của Darus thật ra ít hơn một mảnh ghép đơn độc của sự trải nghiệm. Một nữ diễn viên người Pháp (Emmanuelle Riva) tới Hiroshima để quay một “bộ phim về hoà bình”, trải qua cuộc tình một đêm với kiến trúc sư người Nhật (Eiji Okada). Những khám phá của cô về thành phố đang trong quá trình hồi phục, đặc biệt là những đài tưởng niệm mang phong cách hiện đại, đã làm sống lại những kỷ niệm đau đớn về cuộc tình với người linh Đức  (Bernard Fresson), và kết quả của cuộc tình đó chính là bị sỉ nhục, lên án bởi những người xung quanh và chính cha mẹ mang đầy lòng yêu nước của cô. Các cảnh được sắp xếp với nhau giống như một bản nhạc hiện đại, Hiroshima - Tình yêu của tôi tránh một sự phát triển theo tuyến tính thời gian, thay vào đó là một bản nhạc song song đối kháng với những sự lặp đi lặp lại và sự biến chuyển ngọt ngào trong chủ đề: Sự cố chấp không thể tránh khỏi của quá khứ, cũng như mặt tương ứng của nó, nỗi kinh hoàng của sự lãng quên.

(Cont)



Thứ Ba, 8 tháng 8, 2017

Mr. Nobody: The Paradox of Choice, Chaos Theory and Hidden Knowledge

Mr. Nobody: The Paradox of Choice, Chaos Theory and Hidden Knowledge


(Nghịch lý của sự lựa chọn, học thuyết của sự hỗn loạn và tri thức bí ẩn)




“Bạn phải lựa chọn thật đúng đắn. Khi bạn chưa chọn lựa, thì mọi khả năng vẫn còn đó.” – Nemo 9 tuổi đã nói.

Xã hội phương Tây chúng ta vẫn nghĩ rằng chọn nhiều thì chúng ta sẽ có nhiều quyền lựa chọn hơn và hạnh phúc sẽ lớn hơn trong cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta nên thận trọng với sự lựa chọn vô độ, quá nhiều sự lựa chọn sẽ khiến cho chúng ta nghi ngờ với những quyết định mà chúng ta đã làm trước cả khi chúng ta tạo ra chúng, nó có thể đặt chúng ta lên một kỳ vọng quá phi thực tế, và nó có thể khiến cho chúng ta tự trách chính bản thân vì bất kỳ hoặc tất cả lỗi lầm. Về lâu dài, điều này có thể dẫn đến một loại gọi là tê liệt quyết định. Và trong một nền văn hoá cho chúng ta biết rằng không có bất kỳ một sự biện hộ nào cho việc sụp đổ nhanh chóng của sự hoàn hảo khi những lựa chọn của bạn là vô hạn, quá nhiều sự lựa chọn có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh trầm cảm ngày nay.

Trong hai thập kỷ qua, chuyện sử dụng thuốc chống trầm cảm ở Mỹ nói riêng đã tăng vọt. Hiện nay, phụ nữ ở độ tuổi từ 40 – 50 ở Mỹ, cứ mười người thì có một người dùng thuốc chống trầm cảm. Con số này là một trong bốn điều đáng kinh ngạc. Điều này khiến cho chúng ta phải đặt ra một câu hỏi rằng: Liệu đây có phải nguyên nhân khiến cho sự lựa chọn càng ngày càng gia tăng trong xã hội hiện đại của chúng ta? Tất cả mọi thứ, từ cửa hàng tạp hoá cho đến điện thoại, các trò chơi, và thậm chí cả cách bạn truy cập vào các mối quan hệ trên các trang mạng xã hội hay những trang web hẹn hò nào đó.




Bộ phim Mr. Nobody năm 2009 đề cập cụ thể đến nghịch lý của sự lựa chọn, nó thật sự là một bộ phim yêu thích của tôi trong hơn mười năm qua. Tôi đã phát đi phát lại nó nhiều lần trong những ngày mà thế giới (không phải cuộc sống này) đã làm tôi chán nản đến mức tâm trí tôi cần một thứ gì đó để suy nghĩ, thay vì cứ phải nghe Miley Cyrus đang đi theo con đường mà hầu hết những ngôi sao của Disney và Mickey Clubs đi, đó chính là tới Hollywood (Có một lý do cho xu hướng này nhưng tôi  sẽ không nói đến kể từ khi tôi không còn quan tâm những câu chuyện ít chữ về Miley qua những bản tin chính trị nữa.)

Trong Mr.Nobody, chúng ta đi theo câu chuyện của một người đàn ông 118 tuổi, tên Nemo Nobody (Jared Leto), là người sống tự nhiên cuối cùng trên Trái Đất. Ngoại trừ ông ra, rất cả những người khác đều bất tử và họ thực sự muốn biết ông đã sống như thế nào. Nemo nói rằng ông không còn nhớ gì về quá khứ của mình. Một bác sĩ tâm thần học – tiến sĩ Feldhemin đã cố gắng giúp ông nhớ lại những ký ức bằng cách thôi miên, trong khoảnh khắc đó, hầu hết câu chuyện đã bắt đầu. Và sau đó, chúng ta đi theo cuộc đời của ông theo ba hướng, và mỗi người trong số họ lại là một câu chuyện riêng theo sự lựa chọn của ông.

Tiếp đến, có một đoạn giống như những bước nhảy, khi Nemo 15 tuổi (Toby Regbo) yêu Elise (Clare Tone) – một người thực ra lại yêu một người khác, hoặc cô chỉ là muốn trả thù Jean (Audrey Giacomini). Một cuộc đời khác, khi cậu yêu một người thực sự dành cho cậu, một tình yêu đích thực, với Anna (Juno Temple) – chị gái của cậu và cũng là con gái của dượng. Khi dượng và mẹ chia tay, Nemo vuột mất Anna cho đến tận năm 34 tuổi, hoặc là không phải như vậy. Đến năm 34 tuổi Nemo (Leto) có rất nhiều cuộc đời, trong đó có cuộc đời hạnh phúc khi anh kết hôn với Elise (Sarah Polley) – người đã chết trong một tai nạn, một cuộc đời anh không hạnh phúc với Elise khi cô đang gánh chịu căn bệnh trầm cảm. Tiếp đến là cuộc đời khi kết hôn với Joan (Linh Đan Phạm) – đó lại là một cuộc hôn nhân không tình yêu. Rồi một cuộc đời khi anh gặp lại được Anna (Diane Kruger) tại một trạm tàu điện ngầm, cô đang đi cùng chồng và hai đứa trẻ, và cuộc đời khi anh tìm thấy cô nhưng lại để mất cô chỉ bởi vì một cơn mưa đã làm trôi mất số điện thoại. 


Jaco Van Dormael thông qua khả năng đạo diễn tài tình, kịch bản đa cấu trúc, một tác phẩm điện ảnh đã trình diện không chỉ sự tuyệt vời mà cả những lát cắt bình dị về cuộc đời, những mặt tốt và xấu của con người bằng cách thể hiện bất thường của thể loại khoa học viễn tưởng, với những ví dụ lượng tự vật lý và các lý thuyết hỗn loạn, đặc biệt là lựa chọn đúng đắn, đúng cách, đưa ra quyết định chính xác, nhưng đôi khi không có lựa chọn gì lại là đúng đắn. Tuy nhiên Mr.Nobody của Jaco Van Dormael có phải hơi quá tải rồi hay không? Bộ phim là sự làm quá một cách trung thực và khó để kiểm soát, xử lý tất cả các đề tài một cách thích hợp. 160 phút phim nghe có vẻ nhiều nhưng nó lại có quá nhiều điều hầu như không cho phép Dormael dọn dẹp mặt bằng chung của tất cả những thứ anh ta đưa vào. Điều này có thể là một vấn để nhỏ nếu bạn mong một câu chuyện có kết thúc chặt chẽ, nó có thể gây ra sự mất điểm của bộ phim. Thêm vào đó tôi không muốn ngồi lâu như vậy để rồi có chân thương dai dẳng ở xương chậu – chúng ta đã có phim của KC cho mục đích đó rồi!

“Cái gì xảy ra trước thuyết Big Bang? Vâng, bạn thấy đấy, chẳng có gì trước đó cả bởi vì trước vụ nổ lớn đó, thời gian không hề tồn tại. Thời gian là nguyên nhân mở rộng của vũ trụ. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu vũ trụ đã hoàn thành việc mở rộng đó?” – Nemo Lớn.

Tôi không nghĩ tôi từng xem một bộ phim mà với nhiều kĩ thuật điển ảnh đỉnh cao trước đây. Thật đáng kinh ngạc khi Dormael biến mỗi khung hình thành một sự kiện điện ảnh độc đáo. Có rất ít hiệu ứng ở đây, không có cảnh để kéo dài thời gian chiếu hay để lấp đầy những khoảng trống giữa các thời điểm. Từng cảnh quay đều quan trọng và mọi cảnh được tạo ra để được trông như là một vấn đề. Đạo diễn sử dụng tất cả các ý đồ trong sự sắp xếp để khiến người xem tham gia và quan tâm đến cuộc đời của nhân vật chính, Nemo Nobody.


Mr.Nobody là phim về những lựa chọn của chúng ta trong cuộc đời và cách mà người lớn và trẻ nhỏ có thể ảnh hưởng ra sao tới mọi thứ. Câu hỏi duy nhất khiến Nemo  bận tâm hiện tại là liệu anh ta có sống với chính mình, yêu người phụ nữ mà anh ta nên yêu, và có những đứa con mà anh ta muốn và mục đích của anh ta là đi tìm ra câu trả lời đúng. Cuối cùng, bộ phim đặt ra câu hỏi rằng cuối cùng là có vấn đề gì không khi lựa chọn hay phương hướng ta đã chọn có thật sự tồn tại?

Mr.Nobody là một trong những bộ phim hiếm hoi có thể lôi kéo người xem vào thế giới của nó. Khi bạn xem Mr.Nobody và những sự kiện xung quanh, bạn có thể không thật sự hiểu ý nghĩa của những gì bạn thấy ngay tại thời điểm đó, nhưng bạn vẫn sẽ bị lôi cuốn và khi bộ phim tiến triển dần, nó bắt đầu trở nên có ý nghĩa hơn. Có khá nhiều thứ còn xót lại để giải thích, nhưng bộ phim nên giữ cho bạn suy nghĩ về nó một khi kết thúc.


Bộ phim này giải thích rằng chẳng có gì trên đời là chắc chắn – mọi thứ đều là trí tưởng tượng thuần tuý. Nó giống như một giấc mơ ban ngày: bạn vẽ gì đó và khi một thứ khác dẫn đến một thứ khác nữa, bạn sẽ nhận ra bản thân chỉ đang viễn tưởng sẽ ra sao nếu già và có những đứa cháu. Khái niệm này phản ánh tốt vì nó đúng, bạn chứng kiến nó mỗi ngày trên thế giới. Con người có thể có kế hoạch cho cuộc đời họ như họ muốn nhưng nó sẽ không vận hành như những gì bạn hi vọng hoặc bạn tưởng rằng nó vốn sẽ phải như vậy. Kế hoạch rất tốt trong việc dẫn lối nhưng không bao giờ có điểm cuối được tất cả hay kết thúc tất cả, đó chỉ là việc ngu ngốc. Nếu như bạn có kế hoạch cho mọi thứ trong cuộc đời bạn sẽ bỏ lỡ tất cả những sự hỗn loạn tuyệt vời mà bản chất cuộc sống mang đến.

Bộ phim cũng đề cập tới quan niệm về việc con người được sinh ra với những tri thức bí ẩn về cuộc sống của mình, và việc con người có thể truy cập vào những "ký ức tương lai". Cách duy nhất để chúng ta lý giản khái niệm về "ký ức thì tương lai" là thông qua ví dụ về déjà vu. Đôi khi chúng ta cảm thấy một sự việc tại thời điểm hiện tại nhưng có cảm giác là mình đã trải qua trong khi thậm chí nó còn chưa xảy ra.

"Luôn có một khoảng thời gian trong cuộc sống mà mọi thứ dường như trở nên thật chật hẹp. Mọi lựa chọn đã được sắp đặt. Tôi chỉ có thể bước tiếp. Tôi hiểu bản thân mình rõ như lòng bàn tay. Tôi có thể dự đoán mọi phản ứng của chính mình. Cuộc sống của tôi đã được định sẵn và dập khuôn với túi khí và dây an toàn. Tôi đã làm tất cả để đạt tới được tới điều ấy và giờ thì tôi ở đây, thực sự chán nản và buồn tẻ.” – Nemo

Đã từng rất nhiều lần điều tương tự xảy ra với tôi (và tôi chắc bạn cũng vậy), mặc dù chúng chẳng có gì quá to tát hay nghiệm trọng, chỉ đơn giản dự đoán những điều rất nhỏ như mình sẽ tình cờ cặp ai vào ngày này hoặc những gì người khác sẽ nói tiếp theo. Rất nhiều khoảnh khắc xảy ra với độ chính xác đến mức khiến chúng ta phải đặt câu hỏi liệu cuộc sống đã được sắp đặt trước hay con người có cái được gọi là "Trí thông minh xã hội" (về cơ bản chúng ta sản sinh ra những rung động / tín hiệu phản hứng lại với những sự kiện, suy nghĩ, và hành động từ những người xung quanh chúng ta.)

Mr Nobody nhắc tới một sự thật, rằng Nemo, trước khi sinh ra đã không được các thiên thần đưa ngón tay lên trước miệng. Vì bị bỏ xót nên cậu bé ấy vẫn giữ lại tất cả kí ức của mình. Chính vì lý do này, cậu nhớ cả cách mà mình chọn bố mẹ, biết trước mọi điều sẽ xảy ra đến cuối đời. Mỗi lần vũ trụ mở rộng và kết, như thể cuộc sống đang được lặp đi lặp lại nhưng thực tế mọi thứ đều đồng thời xảy ra, vì thời gian như một thứ ta có thể tạo lập được. Trong thực tế, dường như không có khái niệm về thời gian theo 1 nghĩa nhất định, nó giống như một sinh vật cao hơn, như Chúa trời vậy. Làm thế nào Ngài có thể cùng lúc ở khắp mọi nơi, điều đó thật quá sức để con người có thể hiểu được.


Tôi chắc chắn Jaco Van Dormael đã đưa một vài tuyến truyện vào phim chỉ để “xoay” người xem. Các lựa chọn, nhận vật tới ngay lập tức, kết nối với nhau nhưng không phải ở mọi điểm. Tuy nhiên, Jade Leto là điều giữ tất cả kết nối với nhau. Tôi đã không để mắt tới Jade Leto vài năm qua (rất thích vai diễn của anh trong American Psycho), nhưng thực sự màn thể hiện của anh trong bộ phim này rất tuyệt.

Cuối cùng, câu nói mà tôi trích dẫn từ phần mở đầu của Nemo – là một chân lý đơn giản nhưng sâu sắc. Nó gần như làm bạn muốn đưa ra mọi quyết định quan trọng trong cuộc sống chỉ bằng cách tung một đồng xu; giống như Javier Bardem trong bộ phim "No country for old man", tuy nhiên, tất cả chúng ta đều có thể trông giống như kẻ tâm thần trong bộ phim đó. Sự trớ trêu vô vọng của của Nemo là anh ta không thể đưa ra quyết định vì anh ta không biết điều gì sẽ xảy ra, và kể cả tới khi anh ta biết điều gì sẽ xảy ra, anh ta vẫn không thể lựa chọn.




Dịch: Những cô gái tự lực



Nguồn: https://cervifrank.wordpress.com/2013/10/29/mr-nobody-the-paradox-of-choice-chaos-theory-and-hidden-knowledge/amp/


Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

How the cinema of Wong Kar-wai reflects a Hong Kong in transition

How the cinema of Wong Kar-wai reflects a Hong Kong in transition








Những tác phẩm điện ảnh của ông như một tiếng vọng về sự bất ổn của quê hương mình.

“Ở nơi nào đó, bằng một cách nào đó, mọi thứ đều tới ngày hết hạn. Cá hộp hết hạn. Nước sốt thịt hết hạn. Ngay cả giấy bọc cũng hết hạn. Tôi tự hỏi, liệu có điều gì đó trên thế giới mà không hết hạn cơ chứ? " Những dòng suy nghĩ ngây ngô đến mức chân thành của anh chàng thất tình trong phim Chungking Express (1994) của Vương Gia Vệ– một cảnh sát viên buồn chán, giống như rất nhiều nhân vật chính của Vương Gia Vệ trước và sau này, luôn lưu luyến những gì đã qua. Đó  cũng là một câu hỏi thường trực và hợp lý bạn có thể nghe từ bất kỳ người dân Hồng Kông nào, một thành phố đã tồn tại từ lâu với tâm thức về việc điếm ngược thời gian.

Trong hầu hết những năm của thế kỷ 20, ngày “hết hạn” này là ngày 1 tháng 7 năm 1997, ngày mà Hongkong được Anh trả về với Trung Quốc. Trong hai thập kỷ kể từ đó, con số mà nhiều công dân của Hồng Kông luôn nhắc tới chính là 2047, năm đánh dấu sự “hết hạn” cho vùng lục địa và hệ thống "một quốc gia, hai thể chế" của Hồng Kông,  cho phép lãnh thổ duy trì Quyền tự chủ của nó. (Hồng Kông có quyền tuyên bố độc lập sau 50 năm được trả về cho Trung Quốc, 1997-2047). Đối với một số người, năm 2046 trước đó sẽ là một năm đầy lo lắng khi Hongkong đứng trước bờ vực của những biến động lớn. Đối với Vương Gia Vệ, 2046 chính là số trên căn phòng trong bộ phim Mood for Love, và cũng chính tên bộ phim được ra mắt vào năm 2004 của đạo diễn, một tác phẩm mãn nhãn về thị giác, mang tới cảm giác khải huyền trong sự ngột ngạt của sự sợ hãi và tuyệt vọng.

Nhưng chúng ta hãy cùng quay ngược lại từ khởi đầu một chút. Xét cho cùng, những gì Vương Gia Vệ làm với những tác phẩm đầu tiên thật đáng kinh ngạc. Ông tạo lập một bộ 3: không khí những năm 60 với "In the mood for love" và "2046",  những năm 90 với "Days of being wild", đó là Hongkong  những năm chuyển mình, với sự phát triển kinh tế và dáng dấp của đô thị hàng đầu Á Châu. Đó cũng là thập kỷ mà chàng trai trẻ  Vương Gia Vệ di tản từ Đại Lục sang Hồng Kông cùng với gia đình của anh ấy giữa những căng thẳng, xung đột, mà sẽ sớm bộc lộ ra như một cuộc “cách mạng văn hóa”  . 



Một điều đặc biệt, “kỷ nguyên Kongkong” ấy được Wong vẽ nên qua những thước phim nhuốm màu xanh lá cây hết sức hoài cổ (đặc trưng của phim quay nhựa cũng như màu sắc của đô thị Hongkong về đêm), ngập tràn tình yêu tuổi trẻ và nhịp sống không ngừng nghỉ với sự kỳ lạ quyến rũ của một thiên đường trong mộng tưởng. Đương nhiên, “kỷ nguyên ảo ảnh” đó chẳng thế kéo dài, và vì vậy "Days of Being Wild" đầy ắp những ẩn dụ hình ảnh của một trong biểu tượng thị giác giác yêu thích của Wong: đồng hồ, nó  xuất hiện  như là một sự nhắc nhở về thời gian, trong suốt các tác phẩm của ông sau này. 


 Là nhân vật chính với nhiều biến cố trong "Days of Being Wild", Yuddy của Leslie Cheung (Trương Quốc Vinh) sống như không còn thời gian để nghỉ ngơi, anh tự ví mình như một con chim 'không có chân”, với mối quan hệ với hết người phụ này đến người phụ nữ khác.  Diễn biến tâm lý quan trọng nhất của  Yuddy được thể hiện sâu đậm trong mối quan hệ với Su Li-zhen (Maggie Cheung - Trương Mạn Ngọc), khi mà quãng thời gian bên nhau của họ tuy ngắn ngủi nhưng lại đầy những ưu tư. Hai loại nhân cách này, một người sống không mục đích trong hiện tại và người kia sống vô vọng trong quá khứ, sẽ vẫn là những tính cách mà Vương Gia Vệ dành nhiều hứng thú trong các tác phẩm sau này. 


Khi mốc chuyển giao 1997 ngày một gần hơn, thế giới quan của hình mẫu "loài chim không có chân’ tác động nhiều hơn đến các tác phẩm của Vương Gia Vệ. Chungking Express (1994) là một bộ phim đặc trưng bởi sự liên tục, những mơ mộng và cả sự đe dọa đến từ những thay đổi - trong đó, Brigitte Lin (Lâm Thanh Hà) trong vai diễn một nữ tội phạm với mái tóc giả uốn lọn vàng đầy bí ẩn, người đã có sự phỏng đoán đầy giễu nhại về tương lai vô định (“Hôm nay anh ấy có thể thích quả dứa đấy, mà ngày mai, anh ấy sẽ thích một thứ khác thôi”), luôn chạy đua với thời gian. Câu chuyện về cô gái bí ẩn kết thúc khi cô bị bắn chết bởi liên quan tới việc vận chuyển ma túy, đây là một cảnh kết khiến ta không thể không liên tưởng tới mối quan hệ với các nước phương Tây.


Tuy nhiên, khi mà giao ước trả lại Hongkong từ Anh đã bước sang đến giờ thứ 11, sự lãng mạn tuổi trẻ  của “Chungking Express” đã đọng lại thành một thứ gì đó ảm đạm, cay đắng và tiêu vong. Những hình ảnh đầu tiên của “Happy Together” (1997) đã được tung ra vài ngày trước khi công chiếu, chúng là một chuỗi những cảnh cận hộ chiếu ‘Anh-HK’  của Lai (Lương Triều Vỹ) và Ho (Trương Quốc Vinh), một cặp đôi luôn xảy ra mâu thuẫn cãi vã trên chuyến đi tới Argentina, chỉ để thấy mình khốn khổ, bị xa lánh và không thể trở về nhà. Những cảm xúc vô cớ và sự thay đổi về địa lí của những nhân vật này phản ánh nỗi mâu thuẫn đơn độc của một phần người dân Hongkong đang trải qua, họ mơ hồ về quê hương, trong tình trạng Hong Kong đang ở giữa giai đoạn nhiều thăng trầm. 

Mặc dù "Happy Together" kết thúc bằng một câu nói lạc quan về sự chấp nhận và bình yên đón đợi tương lai, nhưng hình ảnh cuối cùng đoàn tàu vào ga vẫn như một sự báo hiệu, tác phẩm về sự chuyển giao của họ Vương ra mắt đã khiến cho các nhà làm phim phải chìm vào quá khứ bi thương đến tráng lệ hơn bao giờ hết. Với thẩm mỹ tinh tế trong "In The Mood For Love", sự kịch tính ở những bộ phim trước của ông được nén lại vào trong một sự tĩnh lặng ngột ngạt và những cảm giác về phút giây cuối cùng đầy vội vàng giờ đây đều được thay thế bằng một sự nuối tiếc, đau thương. Như mốc thời gian của sự vô nghĩa, 2046 được đặt tên cho một căn phòng, nơi thực chất chẳng xảy ra chuyện gì giữa Chow và Su Li Zhen - những con người sống trong tình yêu, nhưng mọi thứ giữa họ lại trở thành câu chuyện đầy đau đớn, day dứt.

Đó là đặc trưng trong thời kì 2004, với "2046", tuy nhiên, đây cũng là lúc mà nỗi ám ảnh với quá khứ của Vương Gia Vệ đạt tới tột cùng của bi kịch. Một tác phẩm về cơn ác mộng và tầng sâu ý thức đầy tinh tế và đẹp đẽ. "2046" nhìn nhận và biểu hiện sự nhân văn qua việc tái hiện quá khứ và thời gian, bản thân con số như muốn chứng minh căn phòng ở vị trí kì lạ kia - trong một viễn cảnh tương lai sẽ chẳng có gì thay đổi. Còn tình yêu và lý tưởng được phối hợp với nhau trong phân đoạn khó quên của "Day Of Being Wild", đã thật sự không chỉ là một phong cách nghệ thuật trừu tượng để trình bày câu chuyện nữa.

Giờ đây với phong cách tôn thờ tình yêu đã gần như trở thành biểu tượng, với một Chow mang trái tim đau đớn tột cùng, ta dần dần từng chút một nhìn thấy kết cục của mình khiến cho anh không thể làm chủ được những xúc động đang dâng lên, và ký ức thì lại như sự tuyệt vọng đang ngự tại căn phòng 2047. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà "2046" sẽ là bộ phim cuối cùng làm về Hồng Kông trong vòng chín năm qua của Vương Gia Vệ, bộ phim như lời giải kết thúc cho bài toán suốt 9 năm qua của họ Vương về quê hương Hongkong.

Mặc dù có thể thiếu sót trong việc tìm hiểu các tầng ý nghĩa biểu tượng khác trong tác phẩm của Vương Gia Vê, chỉ tập trung vào các biểu tượng và ngụ ngôn chính trị, thì Hồng Kông vẫn là sợi dây kết nối quan trọng chạy xuyên suốt qua những bộ phim tuyệt vời của Vương Gia Vệ. Những người trong giới cho rằng xem phim của Vương Gia Vệ giống như xem những ánh đèn flash chớp nhoáng mà bên trong nó thực sự không có gì, song sự am hiểu về thời đại mới là điều quan trọng trong những tác phẩm của ông – Năm 1997 và 2047 như một dấu mốc quan trọng – giúp làm sáng tỏ những cảm xúc và tình cảm độc nhất bởi một đạo diễn vĩ đại đang sống,  ông đã sáng tác bằng cả sự u uất và thế giới quan của mình. 



(nguồn: http://lwlies.com/articles/wong-kar-wai-cinema-hong-kong-transition/)

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

[Dịch] Review Dunkirk - Matt Zoller Seitz





Dunkirk (2017)

Thể loại: Hành động, tâm lý, lịch sử, chiến tranh.
Đạo diễn/ Biên kịch: Christopher Nolan
Quay phim: Hoyte van Hoytema
Diễn viên:
Kenneth Branagh as Tư lệnh/Thiếu tá Bolton môi mỏng của Hoàng gia Navy
Fionn Whitehead as boy mệnh hoả số nhọ.
Mark Rylance as chú thuyền trưởng ngầu như trái bầu của tàu Moonstone
Tom Hardy as Farrier, phi công đẹp trai dù chỉ lộ mặt hai lần, skill bắn máy bay địch Top 1.
Cillian Murphy as chú lính hoang mang/kẻ ngộ sát thanh niên trên tàu.
Harry Styles as Alex, chàng trai mắc bệnh sợ và nghi vấn xã hội, sau được chữa lành bằng 1 chai bia.
Dựng phim: Lee Smith
Âm thanh: Hans Zimmer



Nổi bật và đầy tham vọng, vô cảm song lại đầy đam mê. Xoay quanh những người đàn ông, tác phẩm của Christopher Nolan về Chiến tranh thế giới lần thứ II: “Dunkirk” đã phô diễn những điểm tốt nhất và tệ nhất trong khuynh hướng của đạo diễn. Những điểm tốt nhất sẽ nổi bật hẳn lên và những điểm tệ bị bỏ quên đi khi bạn nhớ lại những gì từng trải qua – nó chứng minh rằng bạn muốn nhớ tới “Dunkirk” như đó là một bộ phim nhẽ ra phải rất căng thẳng và thành công. Nó giống như là một bộ phim đề tài thảm hoạ hơn là một bộ phim chiến tranh, nó là sự tổng hợp ghi lại cuộc di tản của những người lính Anh, Pháp bị mắc kẹt trên bến cảng và ở bờ biển Dunkirk của Pháp, cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm 1940, cùng với người Đức- kẻ đã huy động lực lượng quân Đồng Minh ra biển, bao vây cho một lần quét cuối cùng.

Nếu bạn có một danh sách của những nỗi ám ảnh bạn có thể nghĩ tới, thì bạn sẽ phải tích “có” trong rất nhiều ô trống sau khi xem bộ phim này. Sợ độ cao, lửa, chết đuối, không gian hẹp, bóng tối, bị bỏ rơi – bạn kêu tên chúng, và chúng được thể hiện qua hình ảnh rõ ràng, khủng khiếp của nhà quay phim Hoyte van Hoytema. Và nếu bạn xem phim này trong một số ít rạp có chiếu định dạng IMAX 70mm, sự trải nghiệm của bạn sẽ càng căng thẳng và áp lực bởi những dáng dấp bất thường của hình ảnh. Nó rất tương đồng với những tỉ lệ cũ phổ biến trong những phim thập niên đầu của điện ảnh: vuông, cao thay vì rộng. Điều đó có nghĩa là  bạn ở bên trong buồng lái của một tàu ngầm, hoặc chạy theo phía sau một lính bộ đang trốn những tay lính bắn tỉa của Đức, ý tưởng về “tầm nhìn đường hầm”, một cụm từ được dùng để chỉ rất nhiều ca sống sót qua thảm hoạ, sống lại trên màn hình.

Bộ phim sẽ được chiếu ở hầu hết các cụm rạp, nhưng tôi nghĩ nó sẽ làm giảm hiệu quả tổng thể: Đây là một bộ phim được “đóng cọc”, nó sẽ thả từng quả bom về thị giác và thính giác nối tiếp nhau, hiếm khi có một khoảng dừng để ta suy tưởng xem nó muốn phô diễn cái gì. Xem chúng khiến ta có cảm thấy rất bí bách. Đây là thời kì mà sức mạnh quân đội Đức tăng lên và sự hi vọng sống còn của nước Anh giảm xuống. Câu chuyện về Dunkirk được kể lại trong một vài phim trước đây, đặc biệt như trong một bộ phim cùng tên của Leslie Norman vào năm 1958, và cũng không thiếu những bộ phim về giải cứu chiến trường khác, nhưng lần này thì có thể thấy sự khác biệt, đặc biệt ở công đoạn nó được thực hiện như thế nào.

Nolan cũng là người viết kịch bản phim, ông đã ném bạn vào giữa chừng phim trong từng khung cảnh một và giữ bạn ở đó. Đây là một bộ phim toàn diện không chỉ để miêu tả các nhân vật thông qua sự trình diễn mà còn rất có giá trị trái ngược khi để họ ẩn danh trên màn hình ở khoảng cách bay, khi bị lạc giữa đám đông hay lạc trôi trong khói và nước. Có những cảnh quay hàng phút mà không hề có thoại, thật hiếm có trong điện ảnh thương mại được thực hiện với mức ngân sách này; và chính nó cũng hiếm hoi trong phim của Nolan, một phong cách thường làm rõ sự việc to lớn qua cách tường thuật bằng lời thoại. ‘Nolan và Hoytema’ giữ những cảnh quay dài hơn Nolan thường làm, thỉnh thoảng nó đủ dài để bạn đắn đo mọi thứ trong khung cảnh và quyết định nên đặt mắt ở đâu.

Cảm giác như có mối quan hệ đặc biệt thân thiết với Terrence Malick, người đã truyền cảm hứng với phác họa chiến tranh trong bộ phim "The Red Thin Line", hay Robert Altman, người đã cho thấy toàn cảnh của những cuộc chiến trong "Nashville" và "Short Cuts", "Dunkirk "  của Nolan có cách xử lý các nhân vật, những người trên bãi biển, trên không trung và trên những con tàu, như là một phần của toàn bộ lịch sử, không chú trọng về thân phận cá nhân, thay vào đó là vai trò của họ trong tổng thể lớn. Tôi sẽ gọi Dunrkin giống như bức tranh về một trang trại kiến: Đó là chân dung của một xã hội, những mảnh nhỏ, đang chiến đấu cho cuộc sống của nó. Bộ phim tỏ ra không quan tâm quá nhiều đến các cá nhân, trừ khi họ đang cố gắng tự cứu mình hay những người khác. Nếu đôi chỗ bạn không thể phân biệt được nhân vật và các khoảng thời gian, thì đó không phải lỗi của bạn mà chỉ là phương pháp kể chuyện đặc trưng đến từ Nolan.

Tom Hardy đóng vai một phi công chiến đấu đang cố gắng bắn rơi các máy bay Đức ra khỏi bầu trời trước khi họ có thể hạ gục binh lính trên mặt đất và đánh chìm tàu ​​thuyền trên bến cảng. Tom từng có khá nhiều lần diễn xuất đằng sau chiếc mặt nạ, và lần hợp tác cuối cùng với Nolan là trong "The Dark Knight Rises"; nhưng trong bộ phim này, anh vẫn tạo ấn tượng mạnh bằng cách thể hiện nhân vật với mọi hành động và diễn xuất của mình. Mark Rylance đóng vai một người dân thường lớn tuổi với cậu con trai thiếu niên, người quyết tâm lái chiếc du thuyền nhỏ của mình đến Dunkirk và giải cứu linh lính bằng mọi giá; ngoài ông ra còn rất nhiều những chiếc thuyền cứu hộ của dân thường; cuộc cứu hộ này đã trở thành hành động quân sự táo bạo nhất của thế kỷ 20, đầy cảm hứng như những gì bạn có thể tưởng tượng ra. Một bộ ba người lính, một người trong số đó do Harry Styles thủ vai, chạy từ thị trấn tới bãi biển và lên một bến tàu trải dài ra biển - Đây là cách duy nhất để các thuyền lớn có thể đến gần bờ và đón những người bị mắc kẹt. Những binh lính phải cầu nguyện để họ có thể lên được một con tàu, trước khi quân Đức kịp ném bom đánh chìm nó. Một số nhân vật, trong đó có Farrier của Hardy và Mark Dawson của Rylance hoặc Tư lệnh Bolton của Kenneth Branagh, sĩ quan người anh có cấp bậc cao nhất, được đặt tên. Những người khác chỉ được xác định bởi vẻ bề ngoài hoặc hành động chung của họ, chẳng hạn như Cillian Murphy, chỉ được gọi là "Người lính đang run rẩy"; Anh ta đã được thuyền trưởng của Rylance cho rời khỏi biển băng và yêu cầu thủy thủ đoàn rời khỏi Dunkirk.

Tuy nhiên bộ phim vẫn có một vài điểm chưa thực sự thuyết phục. Một là “vô danh hóa” liên tục các nhân vật; nó có dụng ý và hiệu quả, nhưng không phải lúc nào cũng hiệu quả; và có những khoảnh khắc bạn tự hỏi, liệu những hiệu ứng bom đạn hoành tráng đã áp đảo cảm xúc thực sự. Một sự tính toán có thể coi là sai lầm khác chính là phần âm nhạc của Hans Zimmer,  âm thanh trống của Jungian, nhịp rung động liên tục, tiếng rít liên hồi của dàn dây nhiều lúc tự làm mất đi sức mạnh của mình, vì đã không lựa chọn sự im lặng. Bởi chính sự im lặng hoặc những tiếng ồn của chiến tranh thậm chí đã mang lại hiệu quả tốt hơn. Việc lạm dụng âm nhạc của Zimmer đã là một vấn đề trong suốt sự nghiệp của Nolan, nhưng bộ phim này sẽ khiến nổ ra nhiều hơn những tranh luận. Các tình huống và hình ảnh trong Dunkirk sống động đến mức, mặc dù có vẻ âm nhạc đang hỗ trợ rất nhiều, nhưng lại không cần thiết đến vậy.

Tôi đã hoà mình nhiều hơn vào cách xây dựng bộ phim, nhưng khi chạm vào những chi tiết thì tôi thấy mình như dần bị đẩy ra ngoài. Nó ở đó còn tâm trí tôi thì đã lạc lối. Giống như hầu hết bộ phim của Nolan, “Dunkirk” cũng mang một sự ám ảnh thuyết tương đối về thời gian, và những pha cắt ngang đột ngột của Lee Smith đã thể hiện rõ điều đó. Smith là người đã dựng toàn bộ phim của Nolan kể từ  “Batman Begins” – trong đó có cả “Interstellar”, điều đó cho ta thấy rất rõ ràng về quan niệm thời gian trôi qua nhanh hơn hay chậm hơn tuỳ vào nơi bạn tồn tại. “Dunkirk” đã thể hiện điều đó từ ngay trong tiêu đề mở đầu về một câu chuyện lớn diễn ra trong một tuần, một câu chuyện khác trong một ngày, và một câu chuyện khác nữa trong một giờ. Sau đó phim sẽ nhảy qua nhảy lại những câu chuyện ấy bằng cách co lại hoặc kéo giãn thời gian để tạo nên một chất thơ, rằng một máy bay có thể chỉ mất ba mươi giây để vận hành sẽ thật hơn so với việc nó mất hàng giờ để cứu hộ biển.
Một trường hợp được đặt ra đó là điều này dẫn đến việc phực tạp hoá một câu chuyện đơn giản, chắc chắn. Nhưng đó là thủ pháp của Nolan kể từ “Following” và “Memento” đến giờ, và sẽ là dối trá nếu tôi nói rằng nó chẳng mê hoặc nổi tôi, ngay cả một bộ phim tỉ mỉ cũng không cho tôi quá nhiều lớp cảnh được như vậy. Người ta thường cho rằng việc cắt ngang đột ngột này sẽ gây nhiều khó khăn cho nhận thức con người về sự xuyên suốt của thời gian. Đây là một trong số ít tác phẩm khiến tôi phải chú tâm vào ý tưởng này hơn cả mạch truyện của cả bộ phim, không chỉ riêng về sự logic của nó. (Và bản phối chủ đạo của Zimmer xứng đáng là một hiện tượng).
Nếu ai đó hỏi tôi tằng tôi có thích bộ phim này hay không? Tôi sẽ nói vói họ là không. Tôi không thích việc chia nhỏ những câu chuyện và đan xen chúng lại với nhau, nhàm chán và nửa vời. Tuy nhiên, cũng có thể coi đây là một sự mâu thuẫn của tôi khi tôi cứ thấy lạ lùng và suy nghĩ về nó từ khi xem nó. Ngay cả những khung hình của “Dunkirk” cũng là một trong những nguyên nhân khiến tôi không thể ngồi yên được. Đây là một bộ phim mang cái nhìn trung thực dựa trên một bản anh hùng ca. Một “chùm” truyện mang đậm sự bi tráng với máy bay chiến đấu, xác chết, nước biển và khói lửa. Một bộ phim đáng để xem và tranh luận về nó. Cho đến khi họ không thể tranh luận được nữa, thực sự, không bao giờ nữa.

(Nhóm dịch: Những cô gái tự lực)